DÂN CHƠI LAN

- Trang Web chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc hoa lan và giới thiệu chế phẩm đặc biệt: HÙNG NGUYỄN - ĐÀ LẠT

Hoa lan Paphiopedilum (Lan hài). p2

Paphiopedilum (Lan hài)

( Tiếp theo và hết )

Paphiopedilum insigne

Lá dài 32 cm, rộng 3 cm, mặt trên của lá màu xanh, phần chân của mặt dưới có đốm. Vòi hoa cao 25 cm, có 1 hoa, hoa to 7-12 cm. Lá đài sau màu xanh xỉn, mặt trong có những đốm nổi mà hạt dẻ, riềm màu trắng, lá đài giả màu xanh với những đốm màu nâu. Các cánh hoa màu nâu vàng, với những vân màu nâu đỏ. Khoang túi màu vàng, cùng với những vân ánh lên màu nâu đỏ tía.

Đây là một biến loài, có màu sắc khác nhau đã đượ mô tả, kể cả biến loài sanderianum Rolfe, có hoa màu trắng và vàng sáng, và biến loài sanderae Reichenbach f., có hoa màu vàng vân xanh.

Địa lan và thạch lan trên những ụ đá vôi gần bờ sông, trên độ cao 1.000-1.500 m, ở miền đông bắc Ấn độ.

Loài tương tự: Paphiopedilum exul (Ridley)

Rolfe, ở Thái-lan, ở đó chúng sinh trưởng như địa lan hoặc thạch lan, ở gần biển, ở cao độ 0-50 m, có vòi hoa ngắn hơn và hoa nhỏ hơn,  và giả lá đài to bằng lá đài sau; Loài Paphiopedilum gratrixianum (Masters) Rolfe, ở Lào và Việt Nam, cũng hình như có hoa nhỏ hơn loài Paph. insigne, có đốm trên lá đài sau lớn hơn nhưng ít hơn.

Paphiopedilum lowii

Lá dài 40 cm, rộng 6 cm, thẳng đến hình đai, lá màu xanh tuyền. Hoa to 9-16,5 cm. Các lá đài màu xanh xỉn, lá đài sau có những đốm màu đỏ tía ở nừa dưới. Các cánh hoa có mụn, ở giữa mép quăn, màu vàng với những đốm mà hạt dẻ, phần đầu cánh hoa màu đỏ tía ngả hồng.

Khoang túi màu nâu vàng, với những vân màu hạt dẻ.

Lan biểu sinh, hiếm khi là thạch lan, trong rừng ven sông và rừng có nhiều mưa, trên độ cao 250-1.600 m, ở Borneo, Java, Malaysia, Salwesi, Sumatra.

Paphiopedilum malipoense

Thân rễ dài và bò lan. Lá dài 20 cm, rộng 4 cm, màu xanh đen, mặt trên có đốm nhạt, mặt dưới có đốm màu đỏ tía. Vòi hoa dài 30 cm, có 1 hoa, hoa to 8-12 cm, thơm mùi táo. Các lá đài và cánh hoa màu trái táo xanh, có sọc và đốm màu đỏ tía. Khoang túi màu xanh xám, bên trong có những đốm màu đỏ tía.

Biến loài jackii (H. S. Hui) Averyanov (cùng loài Paphiopedilum jackii H. S. Hua) ở Trung quốc, khác nhau ở chỗ chúng có các cánh hoa hẹp hơn, với cái môi màu xanh. Biến loài hiepii (Averyanov) P. J. Cribb (cùng loài Paph. hiepii Averyanov), ở Việt Nam có các lá đài và cánh hoa hẹp hơn và dài hơn. Môi nhỏ hơn, một nhụy lép màu trắng, tâm màu đỏ tía.

Địa lan trong rừng tạp trên nền đá vôi, trên độ cao 500-1.300 m, ở Trung quốc, Việt Nam

Paphiopedilum micranthum

Lá dài 15 cm, rộng 5 cm, mặt trên của lá có đốm xanh đậm nhạt, mặt dưới có đốm màu đỏ tía. Vòi hoa cao 20 cm, có 1 hoa, hoa to 6-9 cm, phiến hoa mỏng. Các lá đài và cánh hoa màu hồng vàng, vân màu đỏ tía. Môi lớn, phồng lên, màu hồng, ở phần chân màu xỉn hơn, phía trong có những chấm màu đỏ tía, nhụy lép gập theo chiều đứng, màu trắng và vàng, đốm màu đỏ.

Địa lan trong những nơi thật râm, trong lớp đết mỏng trên sườn núi đá vôi, trên độ cao 450- 1.550 m, ở miền tây nam Trung quốc.

Paphiopedilum parishii

Lá hình đai, dài 45 cm, rộng 7,5 cm, màu xanh. Vòi hoa uốn cong, có 2-9 hoa, hoa to 9-10,5 cm. Các lá đài màu kem đến màu xanh vàng, với những vân sẫm màu hơn. Cánh hoa thẳng, rũ xuống, phần chân cánh hoa màu xanh, mép phía dưới của cánh hoa đốm màu hạt dẻ đậm, nửa phía đầu cánh màu đen hạt dẻ và xoắn lại.

Lan biểu sinh hoặc đôi khi là thạch lan trên những cành cây có rêu và trên tảng đá mòn, trên độ cao 1.200-2.200 m, ở miến tây nam Trung quốc, Myanmar và Thái-lan

Paphiopedilum phillipinense

Lá hình đai, cắt ngang có hình chữ V, màu xanh tuyền, dài 50 cm, rộng 5,5 cm. Vòi hoa dài 50 cm, có 2-5 hoa, hoa to 8,5 cm. Các lá đài màu trắng với các sọc màu hạt dẻ. Các cánh hoa dài, thon và quăn, dài 6-17 cm, rộng 5-7 mm, phần chân của cánh hoa màu trắng hoặc vàng, sau đó  chuyển qua màu hạt dẻ, có những mụn màu sẫm ở mép. Khoang túi và nhụy lép màu vàng.

Địa lan hoặc thạch lan, ở trên nền đá vôi, thường ở chỗ lộ thiên, trên độ cao 0-500 m, ở Borneo, Philippines.

Paphiopedilum primulinum

Lá hình thuôn, dài 17 cm, rộng 4 cm, màu xanh. Vòi hoa dài chừng 40 cm, có nhiều hoa nở liên tục, hoa to 6,5-8 cm, các lá đài màu vàng xỉn đến vàng sáng, riềm các cánh hoa có lông mịn, nhụy lép màu xanh.

Biến loài purpurascens (M. W. Wood) P. J.

Cribb, có đốm màu đỏ tía ở các cánh hoa và môi ánh lên màu đỏ tía.

Thạch lan trong các bụi cây ở núi đá vôi, trên độ cao 0-500 m, ở miền bắc Sumatra.

Paphiopedilum rothschildianum

Lá thẳng, dài 60 cm, rộng 5 cm, xanh tuyền.

Vòi hoa dài chừng 50 cm, có 2-6 hoa, hoa to 14-30 cm. Các lá đài màu kem hoặc vàng với vân màu hạt dẻ. Các cánh hoa màu kem hoặc vàng đốm và sọc màu nâu – hạt dẻ, cánh hoa nằm ngang, dài 8-14 cm, mép có lông, khoang túi màu vàng, ánh lên màu đỏ tía. Loài lan quý này được biết đến ở ba địa điểm, bây giờ chỉ còn lại ở một nơi do bị khai thác quá mức và hủy hoại môi trường sống của chúng. Loài này được dùng làm cây cha mẹ để lai tạo những cây lan lai đẹp.

Địa lan hoặc thạch lan, trên những sườn núi đá vôi, trong bóng râm hoặc chỗ lộ thiên, trên độ cao 600-1.200 m, ở Borneo (Sabah, vùng núi Kinabalu)

Loài tương tự: Paphiopedilum adductum

Asher, ở Philippines, có các cánh hoa cuộn ngược lại chứ không phẳng và một nhụy lép không hoàn toàn che trên đầu nhụy.

Paphipedilum sanderianum

Lá thẳng, dài 45 cm, rộng 5 cm, màu xanh bóng. Vòi hoa gần như nằm ngang, có 2-5 hoa, hoa to chừng 7 cm và dài 95 cm. Các lá đài màu vàng sọc màu hạt dẻ. Các cánh hoa màu kem hoặc vàng, phủ đầy mụn và lông màu hạt dẻ, trông như một dải ruy-băng, xoắn lại, dài 90 cm. Môi màu vàng, có vân và ánh lên với màu nâu. Loài lan thượng hạng này bị khai thác quá mức nên đến nay khó có thể tìm thấy trong thiên nhiên.

Thạch lan trên dốc đá vôi dựng đứng, trên độ cao 50-900 m, ở Borneo (Sarawak)

Paphiopedilum spicerianum

Lá dài 30 cm, rộng 6 cm, màu xanh đậm, mặt dưới của lá , ở phần chân có những đốm màu đỏ tía. Vòi hoa cao 35 cm, có 1 hoặc 2 hoa, hoa to 5-7 cm. Lá đài sau màu trắng, vân ở giữa màu hạt dẻ, cuộn về phía trước, mép lá đài sau cuộn ngược lại làm như nó nằm ngang lên trên bông hoa, lá đài giả màu trắng ngả xanh, các cánh hoa màu xanh vàng, vân ở giữa ngả màu đỏ tía, mép trên của cánh hoa gợn sóng mạnh. Khoang túi màu xanh, ánh lên màu nâu. Nhụy lép màu trắng, ánh lên với màu đỏ tía, ở tâm màu vàng.

Thạch lan hoặc địa lan trên các tảng đá vôi lộ thiên và sườn núi, trên độ cao 300-1.300 m, ở miền đông bắc Ấn độ, miền tây bắc Myanmar.

Paphiopedilum sukhakulii

Lá dài 13 cm, rộng 4,5 cm, những đốm màu xanh đen và xanh vàng. Vòi hoa có 1 hoa, màu đỏ tía, phủ lớp lông mịn màu trắng. Hoa to 11- 14 cm. Các lá đài màu trắng với những vân màu xanh, phần chân có những đốm màu đỏ tía, cánh hoa màu xanh, có rất nhiều đốm màu hạt dẻ, riềm có lông mịn, cánh hoa gần như nằm ngang. Khoang túi màu xanh và ánh lên màu hạt dẻ lẫn đỏ tía.

Địa lan trong những vùng đất nhiều mùn, dưới bóng râm trong rừng, thường bên bờ suối hoặc sườn núi, trên độ cao 1.000 m, ở miền đông bắc Thái-lan.

Loài tương tự: Paphiopedilum wardii Summerhayes, ở miền bắc Myanmar và có thể cả ở Trung quốc, có lá đốm màu đỏ tía mở mặt dưới và hoa nhỏ hơn, cánh hoa ngả màu đỏ tía, chúc xuống dưới, nhụy lép cũng có hình thù khác.

Paphiopedilum venustum

Lá dài 25 cm, rộng 5,5 cm, lá màu xanh xám với những đốm màu xanh đậm, mặt dưới có những đốm màu đỏ tía. Vòi hoa dài 24 cm, có 1 hoa, đôi khi có 2 hoa, hoa to 8-9 cm. Các lá đài màu trắng với những vân xanh. Các cánh hoa màu trắng với vân xanh, ánh lên màu đỏ tía dần ra phía đầu cánh, đồng thời có một số mụn to, màu hạt dẻ sẫm. Khoang túi có màu vàng và vân xanh, ánh lên màu đỏ tía. Đây là loài đầu tiên của giống Paphiopedilum được giới thiệu với những nhà vườn, thời đó người ta mô tả và minh họa trong Tạp chí Curtis’s Botanical

Magazine như là Cypripedium venustum, đó là vào năm 1820.

Địa lan trên những vách đá nhô ra biển và trong những khu vực rất ẩm ướt dưới những tán cây rụng lá, trên độ cao 60-1.350 m, ở miền đông bắc Ấn độ, Bhutan, Sikkim, Bangladesh.

Paphiopedilum victoria-regina

Cùng loài: Paphipedilum Chamberlainianum

(Sander) Stein, và loài Paphiopedilum kalinae Braen.

Lá hình thuôn, dài 30 cm, rộng 10 cm, màu xanh. Vòi hoa uốn cong, dài 60 cm, có nhiều hoa nở lần lượt, hoa to 8-10 cm, các lá đài ngả xanh với những vân màu đỏ tía, Lá đài sau ánh lên với màu đỏ tía ở phần chân. Các cánh hoa màu vàng với những vệt màu hạt dẻ đậm, cánh hoa nằm ngang, xoắn lại, riềm có lông mịn.

Khoang túi màu hồng có những đốm đỏ tía, riềm màu trắng.

Là thạch lan, trên sườn núi, trên độ cao 800- 1.600 m, ở Sumatra

Loài tương tự: Paphiopedilum vitoria-mariae

(Sander ex Masters) Rolfe, cũng ở Sumatra, ở đó chúng sinh trưởng trên độ cao 1.500-2.000 m, lá gấm có màu xanh đậm, mặt dưới ánh lên với màu đỏ tía, lá đài của hoa thiếu những sọc màu hạt dẻ đậm, các cánh hoa không có các vệt màu đỏ tía, môi không có đốm.

Phaphiopedilum-vietnamense-x-delenatii

Paphiopedilum vietnamense

Lá dài 20 cm, rộng 7 cm, lá gấm màu xanh đậm và màu xanh xám ở mặt trên, mặt dưới màu đỏ tía. Vòi hoa dài 25 cm, có 1-2 hoa, hoa to 10-12 cm. Các lá đài màu trắng hoặc hồng, càng ra đầu lá đài càng ánh lên màu hồng ngả đỏ tía. Các cánh hoa màu trắng, hồng hoặc đỏ tía, hai phần ba cánh hoa ở phần đầu ánh lên màu đỏ tía. Khoang túi màu trắng, hồng hoặc đỏ tía, phía trước khoang túi có những vệt màu đỏ, bên trong có những đốm cũng màu đỏ. Nhụy lép màu vàng, riềm trắng, ở tâm màu xanh. Loài lan đẹp này được mô tả vào năm 1999.

Thạch lan hoặc địa lan, trong những khu rừng rậm ẩm ướt, có đá vôi, trên độ cao 350- 550 m, ở Việt Nam.

Paphiopedilum villosum

Lá dài 42 cm, rộng 4 cm, mặt trên màu xanh, phần chân của mặt dưới có những đốm màu đỏ tía. Vòi hoa dài 24 cm, có 1 hoa, cuống hoa có lông dài màu đỏ tía, hoa to 7,5-13,5 cm. Lá đài sau màu xanh, ở tâm màu hạt dẻ, mép trắng, giả lá đài màu xanh xỉn. Các cánh hoa màu nâu đỏ, ở tâm có những sọc ngả màu đỏ tía. Khoang túi màu vàng đất, ánh lên màu hồng ngả đỏ. Nhụy lép màu vàng, ở tâm có u màu vàng hoặc xanh.

Biến loài boxallii (Reichenbach f.) Pfi tzer, ở Myanmar, trên lá đài sau có những đốm lớn màu đỏ tía và cánh hoa cũng có những đốm màu đỏ. Biến loài annamense Rolfe, có hoa nhỏ hơn, và lá hẹp hơn.

Lan biểu sinh, hiếm khi là thạch lan, trong các khu rừng tạp, trên độ cao 1.100-2.000 m, ở miền đông bắc Ấn độ, Myanmar, Thái-lan.

Nguồn tài liệu: SÁCH HOA LAN ( của Bác Phạm Tiến Khoa )

Cập nhật: 15/04/2020 — 18:14

CƠ SỞ SẢN XUẤT THÁI SƠN | P.Trung Mỹ Tây, Q.12, Tp.Hồ Chí Minh

1) Nick facebook: Tô Quốc Cường (0977.781.549 | Dĩ An, Bình Dương | quoccuongbinhduong@gmail.com)

2) Nick facebook: Ben Nguyen (090.337.4405 | Quận 2, TP. Hồ Chí Minh | bennguyendalat@gmail.com)