DÂN CHƠI LAN

- Trang Web chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc hoa lan và giới thiệu chế phẩm đặc biệt: HÙNG NGUYỄN - ĐÀ LẠT

Paphiopedilum (Lan hài). p1

Paphiopedilum (Lan hài)

Phụ chi: Cypripedioideae

Phân bố: Có trên 70 loài ở vùng nhiệt đới châu Á

Loài cây đa thân, không có giả hành, thường là địa lan, song đôi khi cũng là lan biểu sinh hoặc thạch lan. Thân ngắn, rễ to. Có nhiều lá, lá làm thành cái quạt, hình đai, thuôn hoặc hình ê-lip, phần lá ở gốc gập lại, màu thuần xanh hoặc có những đốm sậm màu và xanh nhạt, đôi khi ánh lên màu đỏ tía ở mặt sau. Vòi hoa ngắn, có 1 hoa, hoa to, thường có màu nổi bật. Lá đài sau dựng đứng hoặc tạo thành cái mũ chụp bên trên môi, cái chụp thường có hình trứng. Lá đài hai bên liên kết với nhau tạo thành cái cánh hoa lõm lòng chảo. Các cánh hoa không theo quy ước, nằm ngang hoặc chúc xuống, thường có lông. Môi tạo thành cái mũi dày sâu hoặc thành cái túi nhỏ giống bình trà, chung quanh có lông, đôi khi có lông cả ở phía ngoài. Trụ hoa ngắn, có cuống, với một nhụy không sinh sản ở phiá sau, đó là 2 nắp phấn hoa và một nhụy hoa có cuống. Hình dáng của nhụy hoa không sinh sản giúp ích cho việc hình thành các đặc tính để phân loại. Nhụy hoa của giống này chỉ có 1 ngăn, là một đặc điểm nổi bật để phân biệt với Phragmipedium, nhụy hoa của chúng có ba ngăn.

Hiện tại, có 3 giống phụ đã được ghi nhận là Parvisepalum, giống này có 5  loài; Brachypetalum, có 4 loài và loài phụ Paphiopediulum, được phân ra thành 5 chi gồm những loài còn lại.

Có nhiều loài đã được sử dụng để lai tạo.Việc lai tạo được thực hiện một cách nhân tạo là loài Paph. Harrisianum (Lai tạo giữa Paph. Villosum với Paph. barbatum), do ông John Dominy thực hiện vào năm 1869. Đến nay thì đã có trên 10.000 loài lai đã được đăng ký.

CÁCH TRỒNG

Trong tất cả các giống lan hài thì Paphiopedilum là giống được trồng nhiều nhất và cũng dễ trồng nhất. Mặc dù, đối với một giống lan lớn, thì các loài thuộc chúng cũng có những nhu cầu khác nhau, hầu hết các loài thích nghi với nhà kính có nhiệt độ trung bình. Gần như một nguyên tắc, những loài có lá đốm (lá gấm) thì thích nghi với khí hậu ấm hơn so với loài lá có màu thuần xanh và chỉ có 1 hoa, trong khi cũng loài có lá thuần xanh song lại có nhiều hoa hơn thì cần nhiệt độ khá ấm, cần nhiều ánh sáng hơn. Tất cả các loài, nói chung là cần độ ẩm cao và bóng râm vừa phải. Cũng giống như các loài lan khác, nếu nhiều bóng râm quá thì màu lá sẽ trở nên xanh đậm, như vậy chúng ta chỉ hài lòng với việc trưng bày lá chứ khó cho hoa. Ngược lại, nếu quá nhiều sáng lá sẽ bị vàng. Cây lan có nhu cầu tưới nước quanh năm, song nếu chất trồng luôn ẩm ướt thì rễ cây sẽ bị thối, vì vậy chất trồng cần được thoát nước tốt, thường thì người ta trộn lẫn mảnh vỏ cây với hạt đá trân châu và than củi. Xơ dừa cũng có thể là phù hợp, một số người đã rất thành công với những vật liệu vô cơ như mảnh ván ép vụn. Hầu hết các loài thuộc giống này sinh trưởng ở vùng núi đá vôi, vì vậy nên bổ sung thêm một ít đá vôi cũng rất tốt. Trong quá trình phát triển, cây sẽ tốt nếu định kỳ tưới phân pha loãng cho chúng, nhưng khi đã vào mùa đông thì việc này là không cần thiết. Việc tách chiết cây là không nên làm, trừ phi thật tối cần thiết, khi thấy chúng có nhiều thân mà không ra hoa.

Paphiopedilum acmodontum

Là loài lá gấm, lá dài 18 cm, rộng 4 cm, có 1 hoa. Vòi hoa cao 25 cm, hoa to chừng 7 cm.

Lá đài sau màu trắng với những sọc đỏ chạy theo chiều dọc màu đỏ tía. Các lá đài khác cũng màu trắng với các sọc xanh và đỏ tía. Các cánh hoa phẳng, màu trắng và xanh, ở đầu cánh màu hồng, nửa dưới có vân và những chấm màu đỏ tía, khoang túi màu đồng hoặc màu xanh ô-liu.

Địa lan, trên độ cao 1.000 m, ở Philippines.

Loài tương tự: Paphiopedilum argus (Reichenbach f.) Stein, cũng ở Philippines, hoa lớn hơn và cánh hoa có những đốm đậm màu hơn.

Paphiopedilum appletonianum

Lá dài 25 cm, rộng 4 cm, mặt trên đốm mờ, mặt dưới của lá có pha màu đỏ tía. Vòi hoa cao 48 cm, có 1 hoa, hiếm khi có 2 hoa.

Hoa to 6-10 Các lá đài màu trắng ngả xanh hoặc xanh nhạt với những vân màu xanh đậm. Các cánh

hoa giống như cái bay, nửa đầu cánh xoắn lại, phần nửa dưới mà xanh và đỏ tía với những đốm màu đen hạt dẻ. Môi màu vàng đất đến màu đỏ tía sáng với những vân màu đậm hơn.

Địa lan, trên nền rừng, trên độ cao 450-1.500m, ở Trung quốc, Thái-lan, Lào, Cambodia và Việt Nam.

Paphiopedilum armeniacum

Thân rễ, các chồi mọc cách nhau 5 cm. Lá dài 15 cm, rộng 2,5 cm, với những đốm nổi bật, mặt trên màu xanh ngả xanh dương đậm và nhạt, mặt dưới có đốm màu đỏ tía đậm. Vòi hoa cao 60 cm, có 1 hoa, hoa to 6-11 cm, màu vàng kim, nhụy hoa không kết trái (điếc) có vân đỏ. Môi gần như hình cầu. Ra hoa vào mùa thu đến đầu mùa xuân.

Địa lan và thạch lan trong rừng cây trên đất có lẫn đá vôi, trên độ cao 1.200-2.050 m, ở Trung quốc (miền tây Vân Nam)

Paphiopedilum bellatulum

Lá dài 14 cm, rộng 5 cm, màu xanh đậm với những đốm nhạt ở mặt trên, mặt dưới đốm màu đỏ tía. Vòi hoa dài 5 cm, có 1 hoa, họa hoằn có 2 hoa, hoa to 5,5-8 cm, hơi giống cái chuông, màu trắng hoặc vàng kem với nhiều đốm lớn, màu đỏ tía hạt dẻ. Môi khá nhỏ với hình ê-lip tròn xoay.

Địa lan hoặc thạch lan trong sườn đồi đá vôi dốc, dưới bóng râm, trên độ cao 900-1.500 m, ở Trung quốc, Myanmar, Thái-lan.

Paphiopedilum callosum

Lá dài 20 cm, rộng 5 cm, với những đốm màu xanh đậm nhạt. Vòi hoa cao 40 cm, có 1 hoa màu đỏ tía với lông cũng màu đỏ tía, hiếm khi có 2 hoa, hoa to 9-11 cm. Các lá đài màu trắng, có những vân đỏ và xanh, các cánh hoa chúc xuống dưới, màu trắng đến màu xanh vàng, phần đầu cánh màu hồng, và những vân

màu đỏ tía và màu xanh, những mụn màu hạt dẻ, chủ yếu là ở riềm mặt trên. Khoang túi phấn và nhụy điếc màu xanh ánh lên màu hạt dẻ.

Biến loài sublaeve (Reichenbach f.) P. J. Cribb có hoa nhỏ hơn với các cánh hoa rộng hơn. Biến loài potentianum (O. Gruss & J. Roth) P. J. Cribb, có một lá đài sau hẹp hơn, các cánh hoa không có mụn trên riềm của mặt trên.

Địa lan trong các khu rừng rụng lá, trên độ cao 300-1.300 m, ở Cambodia, Lào, Malaya, Thái-lan.

Loài tương tự: Paphiopedilum barbatum (Lindley) Pfi tzer ở Malaysia, đảo Penang, và Sumatra, có hoa nhiều màu sắc hơn. Loài Paphiopedilum lawrenceanum (Reichenbach f.) Pfi tzer, ở Borneo, có lá lớn hơn và khảm rõ nét hơn, hoa có nhiều màu sắc.

Paphiopedilum charlesworthii

Lá dài 15 cm, rộng 3 cm, mặt trên của lá màu xanh tuyền, phần gần cuống của măt dưới có các đốm màu đỏ tía. Vòi hoa dài 8-15 cm, có 1 hoa, hoa to 8 cm. Lá đài sau màu hồng với các vân màu sẫm hơn, ít khi có màu trắng. Các cánh hoa màu xanh vàng, với những vân hình mắt lưới màu nâu đỏ. Khoang túi màu nâu ngả hồng với những vân sẫm màu hơn. Nhụy hoa điếc màu trắng. Lá đài sau màu hồng là rất đặc

biệt. Một nhà sưu tập đã khuyến cáo, nhiệt độ ở Myanmar, nơi loài lan này sinh trưởng vào mùa đông đạt tới dưới nhiệt độ đóng băng.

Là thạch lan và địa lan trên những núi đá vôi, trên độ cao 1.200-1.600 m, ở Trung quốc, Myanmar, Thái lan.

Paphiopedilum concolor

Lá dài 14 cm, rộng 4 cm, mặt trên của lá màu xanh nhạt với những đốm màu xanh đậm, mặt dưới có đốm màu đỏ tía. Vòi hoa dài 8 cm, có 1 hoặc 2 hoa, hoa to 5,5-7 cm, màu kem hoặc vàng, phủ đầy những chấm màu đỏ tía. Môi hình ê-lip xoay tròn.

Là địa lan, trên những vùng đất cát và trên núi vôi, trên độ cao 90-1.000 m, ở miền tây nam Trung quốc, Cambodia, Lào, Myanmar, Thailan, Việt Nam.

Loài tương tự: Paphiopedilum niveum (Reichenbach f.) Stein, ở miền bắc Malaysia và miền nam Thái-lan, nơi sinh trưởng của nó là trên núi đá vôi, cách mực nước biển 200 m, có vòi hoa cao hơn (15-20 cm), hoa trắng và nhỏ hơn, có những đốm đỏ tía nhạt màu, và môi cũng nhỏ hơn.

Paphiopedilum dayanum

Lá dài 21 cm, rộng 5 cm, khảm nổi bật với màu xanh đen, ở gốc lá màu xanh ngả xanh dương hoặc màu xanh ngả vàng. Vòi hoa dài 5 cm, màu đỏ tía, lông cũng màu đỏ tía, có 1 hoa, hoa to 15,5 cm. Các lá đài màu trắng với những vân xanh, lá đài sau so với các lá đài khác thì dài và hẹp. Các cánh hoa ngả màu đỏ tía. Môi màu đỏ tía hạt dẻ đậm.

Là địa lan, trong các khu rừng rụng lá, trên độ cao 300-1.450 m, ở Borneo (Sabah)

Loài tương tự: Paphiopedilum javanicum (Reinwardt ex Lindley) Pfi tzer, ở Borneo (Sabah và Sarawak), Java, Bali, Flores và Sumatra, ở đó chúng là loài địa lan sinh trưởng dưới bóng râm trong rừng rậm, trên độ cao 950-2.000 m, có hoa nhỏ hơn, hình dáng cũng như màu sắc của hoa đều khác.

Paphiopedilum delenatii

Lá dài 11 cm, rộng 4 cm, mặt trên của lá khảm những đốm màu xanh, mặt dưới đốm màu đỏ tía. Vòi hoa cao 22 cm, có 1 hoặc 2 hoa, hoa to 7-8 cm, màu hồng nhạt hoặc hồng đậm, khoang túi thường có màu đậm hơn, với những đốm màu vàng và đỏ trên nhụy điếc. Loài này mọc ở vùng đất nhiều a-xit nơi hoang dã, vì vậy không cần bổ xung dolomite [CaMg(CO3)2] vào chất trồng. Ra hoa vào đầu mùa xuân.

Là địa lan, trong các khe núi đá, trên sườn núi, sười núi đá granite nơi đất trống trong rừng cây vùng đất thấp, trên độ cao 800-1.500 m, ở Việt Nam.

Paphiopedilum druryi

Cây có thân rễ bò lan, tạo thành những khóm lớn. Lá dài 30 cm, rộng 4 cm, màu xanh nhạt với những vân màu đậm hơn. Vòi hoa dài 25 cm, cuống hoa màu đỏ tía, có 1 hoa, hoa to 6-6,5 cm, màu vàng hoặc vàng ngả xanh. Các lá đài và cánh hoa có đường kẻ màu hạt dẻ ở tâm, khoang túi màu vàng.

Là địa lan hoặc thạch lan, sống dưới ánh nắng mặt trời hoặc dưới bóng râm nhẹ, trên sườn dốc đá, trên độ cao 1.400-1.600 m, ở miền nam Ấn độ.

Paphiopedilum fairrieanum

Lá dài 28 cm, rộng 3 cm, màu xanh với những đốm xanh đậm, mờ. Vói hoa có lông màu đỏ tía, dài 45 cm, có 1 hoa, thỉnh thoảng có 2 hoa, hoa không có kích thước nhất định, thường là 9-10.

Các lá đài và cánh hoa màu trắng, vân xanh và đỏ tía, các cánh hoa chúc xuống, đấn đầu cánh lại uốn ngược trở lên. Môi ngả vàng với những vân ánh lên màu đỏ tía, khoang túi màu vàng có những vân đỏ tía và xanh.

Là địa lan hoặc thạch lan trên nền đá vôi, trên sườn núi cỏ mọc, trên độ cao 1.400-2.200 m, ở Bhutan, Sikkim, miền đông bắc Ấn độ.

Paphiopedilum godefroyae

Lá dài 14 cm, rộng 3 cm, mặt trên của lá màu xanh nhạt, mặt dưới thường có những đốm màu đỏ tía. Vòi hoa cao 8 cm, màu đỏ tía, có lông tơ, có hoặc 2 hoa, hoa màu trắng hoặc màu kem, thường có những đốm màu đỏ tía. Môi cũng có đốm nhưng thường ít hơn cánh hoa và lá đài.

Là địa lan và thạch lan, trên nền đá vôi, trên độ cao 0-100 m, ở Thái-lan.

Paphiopedilum henryanum

Cùng loài: Paphiopedilum dollii Luckel

Lá dài 17 cm, rộng 2,5 cm, màu xanh tuyền.

Vòi hoa dài 15 cm, có 1 hoa, hoa to 5 cm. Các lá đài màu vàng với những đốm màu hạt dẻ sẫm,

bên ngoài có lông màu đỏ tía. Cánh hoa màu vàng và đỏ tía, có đốm màu hạt dẻ chủ yếu ở nửa phần chân của cánh. Khoang túi màu hồng ngả đỏ tía, mép màu vàng. Nhụy điếc màu vàng có những đốm ổ giữa màu đỏ tía. Ra hoa vào mùa thu. Là địa lan trên sườn núi, trên độ cao 1.000- 1.200 m, ở Trung quốc, Việt Nam. ( Hết phần 1 )

Nguồn tài liệu: SÁCH HOA LAN ( của Bác Phạm Tiến Khoa )

Cập nhật: 15/04/2020 — 18:14

CƠ SỞ SẢN XUẤT THÁI SƠN | P.Trung Mỹ Tây, Q.12, Tp.Hồ Chí Minh

1) Nick facebook: Tô Quốc Cường (0977.781.549 | Dĩ An, Bình Dương | quoccuongbinhduong@gmail.com)

2) Nick facebook: Ben Nguyen (090.337.4405 | Quận 2, TP. Hồ Chí Minh | bennguyendalat@gmail.com)