DÂN CHƠI LAN

- Trang Web chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc hoa lan và giới thiệu chế phẩm đặc biệt: HÙNG NGUYỄN - ĐÀ LẠT

Hoa lan Cymbidium

Hoa lan Cymbidium

Tông: Cymbidieae

Tông phụ: Cymbidiinae

Phân bố: Khoảng 50 loài ở châu Á và Australia 

Là lan biểu sinh, thạch lan hoặc địa lan, giả hành hình trứng hoặc hình thon dài. Lá ít khi bị rụng, thẳng hoặc hình đai.

Vòi hoa thẳng đứng, uốn cong hoặc buông rủ, không phân nhánh, phát xuất từ gốc giả hành, có từ 1 đến nhiều hoa, cuống được bao bọc bởi lớp vỏ lụa.

Hoa có thể có hương thơm. Các lá đài và cánh hoa không theo quy ước, thường gần giống nhau, phẳng và chỉ về phía trước. Môi có ba thùy, các thùy bên hướng lên trên, thùy giữa cuộn lại, mô sần trên môi thường có chóp song song nhau.

Cymbidium lai tạo là trong số những giống được trồng rộng rãi nhất. Ở Australia, New Zealand và những nơi ở Hoa kỳ, chúng được trồng ngoài trời.

Loài Cymbidium lai giữa Cymbidium eburneum với Cymbidium lowianum ra hoa vào năm 1889, rồi sau đó những loài này được lai với Cymbidium insigne, đã trở thành một loài cơ bản cho việc lai tạo trong một thời gian dài. Những năm gần đây, nhiều loài được đưa vào lai tạo, và kết quả thu được có cả loài mini cũng như loài cho vòi hoa buông rủ, những loài này chủ yếu là từ Cymbidium devonianum. 

CÁCH TRỒNG

Hầu hết các loài thuộc Cymbidium đều dễ trồng, mặc dù không dễ để chúng có thể ra hoa. Chúng thường được trồng trong chậu với các chất trồng thô để dễ thoát nước. Đối với những cây lớn thì nên trồng chúng trong các chậu đất nung. Đối với những cây có vòi hoa rủ thì trồng chúng trong các chậu được kê cao hoặc trong giỏ treo. Năm 1988 ông Du Puy và ông Gribb đã chia Cymbidium thành ba nhóm như sau:

NHÓM I. Loài có hoa lớn ở Himalayas, vùng núi của Trung quốc và các nước Đông dương. Hầu hết loài lan lai này cần ánh sáng mạnh trong mùa hè, nhiệt độ ấm và độ ẩm cao. Nhiệt độ về đêm không bao giờ được vượt quá 12oC và chịu được nhiệt độ xuống tới 5 oC mà không bị hại. Vào ban ngày,nhiệt độ không lớn hơn 27 oC, một khi vòi hoa bắt đầu hình thành thì có thể tưới nước và bón phân nhiều hơn. Vào mùa đông cây cần một nhiệt độ mát mẻ, khô và chiếu sáng. Hầu hết loài này ra hoa trong mùa đông và đầu mùa xuân.

NHÓM II. loài nhiệt đới và á nhiệt đới có hoa nhỏ, từ Ấn độ tới miền nam Trung quốc, Malaysia và Australia, lại phát triển và ra hoa vào mùa hè. Chúng thích hợp với nhiệt độ 30 oC vào ban ngày và 18-20 oC vào ban đêm, có thể bón nhiều phân và tưới nhiều nước. Vào mùa đông chúng vẫn cần đủ sáng và giảm nước tưới. 

NHÓM III. Loài ở nơi khí hậu ôn hòa, hoa nhỏ từ Nhật bản, Trung quốc và Himalayas, chủ yếu là địa lan, yêu cầu khí hậu mát mẻ, có sương mù. Một số loài cần mái che phủ để có nhiệt độ thấp trong vườn trồng. Vì vậy nên trồng chúng trong nhà kính hoặc nhà trên núi. Chúng có rễ lớn, vì vậy trồng bằng các chất trồng cho lan biểu sinh, thoát nước tốt.

Lan Cymbidium aloifolium

cymbidium-aloifoliumGiả hành hình trứng, dài 4-6 cm. Lá dài 80 cm, rộng 4 cm, dày, cứng, hình đai (strap). Vòi hoa rủ, dài 90 cm, có nhiều hoa, hoa to 5,5 cm. Các lá đài và cánh hoa từ màu kem đến màu vàng xỉn, với đường sọc ở giữa màu nâu hạt dẻ.

Môi màu kem hoặc trắng, với những đường gân màu vàng và một mô sần màu vàng. Ra hoa vào mùa xuân-hè (Nhóm II).

Lan biểu sinh trên các chạc cây và trên các cành cây ở những khu rừng thưa, trên độ cao 0-1.500 m, ở Ấn độ tới miền nam Trung quốc, các nước Đông nam Á, Java.

Loài tương tự: Cymbidium bicolor Lindley, là loài có cây nhỏ hơn một chút, đồng thời môi có đốm nâu khác với những đường sọc. 

Lan Cymbidium canaliculatum

cymbidium-canaliculatumGiả hành dài 10 cm, to 4 cm. Lá dài 65 cm, rộng 4 cm, cứng, thẳng, màu xanh xám, có kẻ sọc ở mặt trên. Trên một giả hành có 1-2 vòi hoa, vòi hoa cong, có nhiều hoa, hoa to 4 cm.

Các lá đài và cánh hoa hình mũi mác, sắc nhọn, chung quanh lá màu nâu hoặc xanh, bên trong màu vàng. Môi màu kem với những đốm đỏ hoặc đỏ tía. Mô sần với 2 cái chóp song song. Ra hoa vào mùa thu-đông (Nhóm II)
Lan biểu sinh, sống trong các hốc cây do cành cây gẫy tạo thành, thường sống ở nơi có khí hậu khô, trên độ cao 0-1.000 m, ở miền bắc và đông bắc Australia. 

Loài tương tự: Cymbidium madidum Lindley, ở miền đông bắc Australia, chúng có lá cứng và rộng hơn. Các lá đài thì tròn hơn, nhưng môi
lại không có chóp ở mô sần nhưng có một chi tiết giống cái lưỡi lè ra ở phần gốc của môi. 

Loài Cymbidium suave R. Brown ở miền đông Australia, cũng có phần giống cái lưỡi ở chân môi, nhưng cây thì nhỏ hơn, gần như không có giả hành.

Lan Cymbidium devonianum

cymbidium-devonianumGiả hành nhỏ, bị che khuất bởi lớp vỏ lụa. Lá dài 30 cm, rộng 6 cm, hình thuôn hoặc ê-lip, sắc nhọn, màu xanh đậm. Vòi hoa buông rủ, dài 50 cm, có nhiều hoa mọc sít nhau, hoa to 3,5 cm, màu đồng hoặc xanh có những đốm màu hạt dẻ. 

Thùy bên của môi màu kem, thùy giữa màu hạt dẻ với hai chấm đỏ tía ở phần chân. Ra hoa vào mùa xuân đến đầu mùa hè (Nhóm III).

Thạch lan trên những tảng đá đóng rêu, hoặc lan biểu sinh trên những thân cây có rêu, trên độ cao 1.450-2.200 m, ở miền đông Ấn độ tới miền bắc Thái-lan.

Lan Cymbidium eburneum

Giả hành không rõ. Có nhiều lá hình đai hẹp (narrow strap), lá dài 60 cm, rộng 2 cm, lá mỏng, dai. Vòi hoa dài 35 cm, có 1-3 hoa, hoa to 12 cm, có hương thơm, màu trắng sáp, thường pha hồng. Môi có chóp vàng trông giống cái nêm (chêm), thùy giữa đôi khi có những chấm đỏ tía và một miếng vá màu vàng. Ra hoa vào mùa đông-xuân (Nhóm I)

Lan biểu sinh, dưới bóng râm trong những khu rừng có khí hậu ấm, sương mù, trên độ cao 300-1.700 m, ở miền bắc Ấn độ, bắc Myanmar và miền nam Trung quốc.

Loài tương tự: Cymbidium mastersii Griffith ex Lindley ở miền bắc Ấn độ, Myanmar và miền bắc Thái-lan, có vòi hoa cong đến buông rủ, và hoa nhỏ hơn do nó không mở rộng khi đã nở hết. Loài Cymbidium parishii Reichenbach f. ở Myanmar có hoa to 7 cm, trên môi có những đốm màu đỏ tía và một mô sần có hai chóp tụ lại.

Lan Cymbidium ensifolium

Giả hành nhỏ, thường ẩn dưới mặt đất. Lá dài 95 cm, uốn cong xuống giống một loại cỏ. Vòi hoa dài 70 cm, có nhiều hoa, hoa to 3-5cm, thường có hương thơm. Lá đài và cánh hoa phẳng, màu vàng hoặc xanh, có những đường kẻ màu đỏ hoặc nâu. Môi màu xanh, vàng hoặc trắng, thùy giữa của môi có những đốm đỏ, các thùy bên có những sọc đỏ. Loài này đã được trồng ở Trung quốc và Nhật bản trên 2000 năm.
Ra hoa vào mùa đông-xuân (Nhóm III) 

Lan biểu sinh, sống trong các khu rừng lá lớn ở Sri Lanka và miền nam Ấn độ tới Philippines 

Loài tương tự: Cymbidium sinense (Jackson) Willdenow (cùng loài Cymbidium fragans Salisbury), có nhiều hoa hơn, hương thơm nồng, với các lá đài và cánh hoa màu nâu đỏ, các cánh hoa chỉ ra phía trước gần sát với trụ hoa. Loài Cymbidium faberi có nhiều hoa hơn, thùy giữa của môi được che phủ bởi những cái gai.

Lan Cymbidium erythrostylum

cymbidium-erythrostylumGiả hành dài 6 cm, to 2 cm. Lá dài 50 cm. Vòi hoa đứng thẳng hoặc uốn cong, dài 60 cm, có 4-8 hoa, hoa to 6-11 cm. Các lá đài phẳng, các cánh hoa đua ra phía trước. Lá đài màu trắng, cánh hoa màu trắng, song ở phần chân có những đốm màu hồng. Môi màu trắng vàng, thùy giữa màu vàng với những đường sọc đỏ. Ra hoa vào mùa thu-đông (Nhóm I) 

Lan biểu sinh, thạch lan hoặc địa lan, trên độ cao chừng 1.500 m, ở Việt Nam.

Lan Cymbidium floribundum

cymbidium-floribundumCùng loài: Cymbidium pumilum Rolfe.

Giả hành nhỏ. Lá thẳng và dai. Vòi hoa hướng lên trên, dài 30 cm, nhiều hoa mọc sít nhau, hoa to 3 cm. Lá đài và cánh hoa màu đỏ tía hoặc màu nâu đỏ. Môi trắng có những chấm đỏ. Loài này dùng để lai tạo cho ra loài lan nhỏ miniature cymbidiums. Ra hoa vào mùa xuân hè (Nhóm III)

Địa lan mọc trên các tảng đá ở khe núi hoặc trong rừng thông, trong môi trường phơi nắng hoàn toàn hoặc dưới bóng râm. Đôi khi là lan biểu sinh, trên độ cao 800-2.800 m, ở Trung quốc.

Lan Cymbidium goeringii

Loài lan lùn với các giả hành nhỏ. Lá giống lá cỏ, mép lá có răng cưa. Vòi hoa cao 10-15 cm, có 1 hoa, hoa to chừng 5 cm, thường thì có hương thơm. Lá đài và cánh hoa màu xanh, xanh pha vàng hoặc pha nâu. Môi trắng có những đốm đỏ tía. Loài này đã được trồng ở Trung quốc cách đây chừng 2500 năm, và ở Nhật bản cũng cách đây vài trăm năm. Đây là một biến loài và người ta đã sưu tầm được chúng ở nhiều dạng khác nhau. Ra hoa vào mùa xuân (Nhóm III)

Địa lan, sống trên những nơi có lá mục, trong những khu rừng thưa, trên độ cao 500-3.000 m, ở Trung quốc, Nhật bản.

Lan Cymbidium kanran

Giả hành cao 6 cm, hình trứng hẹp. Lá uốn cong, dài 30-90 cm. Vòi hoa đứng thẳng, cao 60 cm, có 5-12 hoa, hoa rất thơm, hoa to 5-7 cm, khá giống con nhện. Các lá đài và cánh hoa, thẳng hơi gập lại, màu xanh sáng hoặc xanh ôliu. 

Môi màu vàng xỉn hoặc xanh xỉn, có những đốm đỏ. Loài này đã được trồng ở Trung quốc và Nhật bản hàng trăm năm nay (Nhóm III). 
Địa lan, sống trong các khu rừng rậm, nhiều bóng râm, trên độ cao 800-1.800 m, ở Trung quốc, Nhật bản và Triều tiên.

Lan Cymbidium lowianum

Giả hành dài 10-15 cm, lá thẳng, dài 50-90 cm. Vòi hoa cao 150 cm, có nhiều hoa, hoa to 7,5-10 cm. Lá đài và cánh hoa màu xanh vàng, có những đường gân màu nâu. Môi vàng hoặc trắng, thùy giữa có hình chữ V và có những đốm đỏ tía. Ra hoa vào cuối mùa xuân, đầu mùa hè (Nhóm I)

Là lan biểu sinh, trong các khu rừng có nhiều bóng râm ở Myanmar, Trung quốc, Thái-lan. 

Lan Cymbidium tigrinum

Giả hành dài 6 cm, hình trứng, Lá hình mũi mác, uốn cong, dài 25 cm, rộng 3,5 cm. Vòi hoa thường dài hơn lá, có 3-6 hoa, hoa to 5-8,5 cm, có hương thơm. Các lá đài và cánh hoa màu xanh ngả vàng, với những đường kẻ và chấm đỏ mờ. Môi trắng, có sọc và chấm đỏ tía. Ra hoa vào mùa xuân đến giữa mùa hè (Nhóm I)

Thạch lan, ở những nơi lộ thiên, trên độ cao 1.500-2.700 m, ở Myanmar và đông bắc Ấn độ

Nguồn tài liệu từ: Sách hoa lan ( của Bác Phạm tiến Khoa )

Cập nhật: 15/04/2020 — 18:15

CƠ SỞ SẢN XUẤT THÁI SƠN | P.Trung Mỹ Tây, Q.12, Tp.Hồ Chí Minh

1) Nick facebook: Tô Quốc Cường (0977.781.549 | Dĩ An, Bình Dương | quoccuongbinhduong@gmail.com)

2) Nick facebook: Ben Nguyen (090.337.4405 | Quận 2, TP. Hồ Chí Minh | bennguyendalat@gmail.com)